Mạnh tay chống “đội lốt” hàng Việt nếu không muốn nhiều doanh nghiệp Việt phá sản

Việc nhập hàng về gắn mác hàng Việt không chỉ đẩy nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất Việt Nam đến chỗ phá sản, mà còn tiềm ẩn nguy cơ hàng Việt bị áp thuế trừng phạt với mức cao từ các nhập khẩu.

Mạnh tay chống đội lốt hàng Việt nếu không muốn nhiều doanh nghiệp Việt phá sản - Ảnh 1.

Theo Tổng cục Hải quan, ngành dệt may – da giày nằm trong danh sách 15 nhóm mặt hàng có nguy cơ cao về gian lận, giả mạo xuất xứ – Ảnh : T.V.N.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đã mất những xuất khẩu quan trọng thời gian qua là hậu quả của tình trạng gian lận xuất xứ, mới nhất là một số sản phẩm thép Việt Nam bị Mỹ áp thuế lên tới 456%, không chỉ gây thiệt hại nặng cho những ngành hàng này mà còn ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.

Theo các chuyên gia, đã đến lúc các cơ quan chức phải siết chặt lại hoạt động cấp chứng nhận xuất xứ (C/O), đồng thời áp dụng các biện pháp chế tài đủ mạnh với các hành vi gian lận này thay vì chỉ xử phạt hành chính.

Hết cửa xuất khẩu vì gian lận xuất xứ

Ông Hồ Đức Lam – Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) – cho biết ngành nhựa đã có nhiều bài học “xương máu” khi bị Mỹ áp thuế trừng phạt do bị “vạ lây” từ nước láng giềng.

Chẳng hạn, ngay từ năm 2009, Mỹ khởi xướng vụ kiện chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CTC) đối với túi PE xuất khẩu từ Việt Nam. Kết thúc điều tra, túi PE của Việt Nam bị Mỹ áp thuế CBPG ở mức 52,3-76,11%, và bị chồng thêm thuế chống trợ cấp từ 5,28-52,56% và duy trì cho đến nay, dù trước đó mặt hàng này của Việt Nam có thuế suất nhập khẩu vào Mỹ rất thấp.

Việc áp thuế trừng phạt này đã ảnh hưởng lớn đến ngành nhựa, bởi đây là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường Mỹ, từng chiếm 40% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành nhựa.

Chưa hết, từ tháng 3-2018, Mỹ tiếp tục khởi kiện CBPG với sản phẩm bao dệt PP được xuất khẩu từ Việt Nam. Trong cả hai vụ kiện này, sản phẩm bị kiện của Việt Nam đều có tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu cao vào thị trường Mỹ. Tỉ lệ tăng trưởng cao này chủ yếu rơi vào các công ty FDI đến từ Trung Quốc có đầu tư nhà máy sản xuất “trá hình” tại Việt Nam.

“Điều đáng nói là những công đoạn sản xuất mà các DN này đặt tại VN chỉ là một phần cuối trong chuỗi quy trình sản xuất: ép/cắt, chia cuộn ra thành phẩm để xuất khẩu. Thậm chí sau khi bị phía Mỹ nêu đích danh điều tra, bị đơn chính trong vụ kiện túi PE cũng mất tích tại Việt Nam” – ông Lam cho biết.

Cũng với ngành nhựa, năm 2014 Ấn Độ khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với mặt hàng máy ép đùn, phun nhựa xuất khẩu từ Việt Nam dù loại máy này ngành cơ khí Việt Nam chưa thể sản xuất được. Trong khi đó, phía Ấn Độ ghi nhận có hàng xuất đi từ Việt Nam, được “sản xuất” từ doanh nghiệp FDI (100% vốn Trung Quốc, trụ sở tại Bình Dương) và Ấn Độ đang áp thuế chống bán phá giá ở mức 60-174% với mặt hàng này của Trung Quốc.

Theo ông Nguyễn Văn Sưa – nguyên phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), hiệp hội này từng nhiều lần phát đi cảnh báo rằng khi thương chiến Mỹ – Trung Quốc nổ ra, ngành thép của Việt Nam sẽ bị tác động rất lớn bởi các nhà sản xuất thép Việt Nam nhập nhiều nguyên liệu thép từ Trung Quốc về sản xuất để xuất khẩu.

Việc Mỹ tạm thời áp thuế kép với thép Việt Nam lên đến 456% từ tháng 7-2019 không phải là điều quá bất ngờ, vì Mỹ đã đưa mặt hàng này vào tầm ngắm từ năm 2017.

Không thể tiếp tục buông lỏng

Khi thương chiến Mỹ – Trung nổ ra, hàng hóa Trung Quốc xuất qua Mỹ đã bị đắt hơn, khiến các doanh nghiệp Trung Quốc tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu qua các thị trường khác, trong đó có Việt Nam, khiến hàng loạt DN Việt thuộc nhiều ngành hàng lao đao. Ngoài ra, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng chọn Việt Nam là nơi trung chuyển để “sơ chế” hàng hóa trước khi xuất khẩu sang Mỹ nhằm lẩn tránh thuế.

Ông Âu Anh Tuấn – quyền cục trưởng Cục Giám sát quản lý hải quan, Tổng cục Hải quan – cho biết cơ quan này đã “khoanh vùng” 15 nhóm hàng (dệt may, da giày và túi xách; máy vi tính; điện tử và linh kiện; điện gia dụng và linh kiện; điện thoại và linh kiện; sắt thép và các sản phẩm sắt thép; gỗ và các sản phẩm gỗ…) có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ do có sự gia tăng đột biến về kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc và xuất khẩu sang thị trường như Mỹ.

Theo nhận định của Tổng cục Hải quan, có hiện tượng buông lỏng cấp C/O, chính quyền xác nhận khống nguồn gốc sản phẩm cho việc cấp C/O, tạo điều kiện cho các DN gian lận xuất xứ hàng hóa.

Do đó, các chuyên gia cho rằng đã đến lúc cần siết chặt việc cấp C/O để ngăn chặn nguy cơ lợi dụng xuất xứ hàng hóa từ Việt Nam để lẩn tránh thuế từ nước khác. Theo đó, không cấp phép đầu tư, chứng nhận đăng ký kinh doanh cho những dự án sản xuất không đảm bảo thực hiện hơn 2/3 chuỗi quy trình sản xuất tại Việt Nam.

Trước khi cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), cơ quan chức năng cần lưu ý các DN nằm trong “danh sách đen”, chỉ lập những cơ sở hoặc thuê mướn mặt bằng làm cơ sở, hay chỉ chọn Việt Nam làm các công đoạn gia công đơn giản (như đóng gói bao bì, dán nhãn…), các sản phẩm này không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quy tắc xuất xứ hàng hóa.

“Ngoài ra, cần siết chặt kiểm tra đối việc các doanh nghiệp FDI tận dụng quy định chuyển đổi mã số HS hàng hóa để xin cấp C/O. Phải nắm thật chắc rằng DN có thật sự sản xuất, hoặc công đoạn nào là sản xuất thật sự chứ không chỉ làm những phần việc hết sức đơn giản rồi xin chứng nhận chuyển đổi” – một chuyên gia đề nghị.

Đề nghị xử lý hình sự

Trao đổi về các giải pháp chống gian lận và giả mạo xuất xứ hàng hóa, ông Nguyễn Phi Hùng – cục trưởng Cục Chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan – đề nghị phải tăng chế tài xử phạt, thậm chí là tội hình sự, chứ không chỉ phạt hành chính 3-30 đồng như hiện nay.

Theo ông Hùng, trong thời gian tới cơ quan hải quan sẽ tăng cường các biện pháp như giám sát tại cửa khẩu, kiểm soát chặt với các mặt hành có kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bất thường. Ngoài ra sẽ lưu ý với một số doanh nghiệp FDI lợi dụng chính sách thu hút đầu tư để gia công đơn giản, “tráng men” hàng nhập để hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu.

Tổng cục Hải quan cũng chỉ đạo cơ quan hải quan các địa siết chặt quản lý đối với các mặt hàng có nguy cơ cao trong gian lận thương mại như xe đạp điện, gỗ, điện tử, linh kiện điện tử, sắt thép, các sản phẩm sắt thép…, đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan để giám sát “sức khỏe” DN, nhất là những DN có lượng hàng xuất khẩu mang thương hiệu Việt rất lớn nhưng chỉ tiêu thụ điện, nước, nhân công rất ít.

L.THANH

Trần Vũ Nghi

Tuổi trẻ

Theo vietstock.vn